Tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm
31/10/2024 | 11:26 AM
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên chủ trì cuộc họp tiếp thu ý kiến của các tổ chức, doanh nghiệp đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 09/2016/NĐ-CP
Sáng ngày 30/10/2024, Bộ Y tế đã tổ chức cuộc họp tiếp thu ý kiến của các tổ chức, doanh nghiệp đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 09/2016/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định về tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, đại diện một số Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế, các tổ chức quốc tế, hiệp hội doanh nghiệp, một số đơn vị có liên quan và một số chuyên gia.
Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế Đinh Thị Thu Thủy báo cáo tại cuộc họp
Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Vụ Pháp chế - Bộ Y tế cho biết đến ngày 17/10/2024, Bộ Y tế nhận được 07 nhóm ý kiến từ các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp; trong đó: 07/07 tổ chức nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị định. 04/07 tổ chức bao gồm WHO, UNICEF, IGN, HealthBridge Canada ủng hộ hoàn toàn sự cần thiết và cung cấp thêm bằng chứng để giữ nguyên quy định bắt buộc tăng cường i-ốt vào muối; sắt, kẽm vào bột mì. 03/07 tổ chức Hiệp hội ngành hàng thực phẩm, Amcham, VASEP có ý kiến đối với Hồ sơ dự thảo Nghị định.
Với các nhóm ý kiến khác nhau, Bộ Y tế đã có tiếp thu và giải trình theo từng nhóm vấn đề dựa trên khuyến cáo của WHO, cơ sở thực tiễn và các nghiên cứu, điều tra dịch tễ.
Đại diện các hiệp hội doanh nghiệp phát biểu ý kiến và đưa ra các kiến nghị tại cuộc họp
Tại cuộc họp, đại diện của các Hiệp hội doạn nghiệp đưa ra những kiến nghị khác nhau về việc phân loại các sản phẩm cần khuyến khích và nhóm sản phẩm cần hạn chế sử dụng I ốt, việc gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp trong việc đưa I ốt vào các sản phẩm chế biến, việc ảnh hưởng đến giá trị cảm quan của các sản phẩm truyền thống gây khó cho doanh nghiệp.
Đại diện Unicef phát biểu tại cuộc họp
Các tổ chức quốc tế, các cơ quan, đơn vị của Bộ Y tế theo chức năng nhiệm vụ đã giải đáp những thắc mắc của các doanh nghiệp, đưa ra những minh chứng cụ thể theo nghiên cứu khoa học của nhiều nước trên thế giới về việc cần thiết và bắt buộc bổ sung vi chất dinh dưỡng vì sức khỏe người dân. Theo báo cáo 2021 của Mạng Lưới Toàn cầu về Phòng Chống các rối loạn do thiếu i-ốt, Việt Nam đang nằm trong nhóm 26 nước còn lại trên thế giới bị thiếu i-ốt. Theo Kết quả tổng điều tra dinh dưỡng năm 2019-2020 tại Việt Nam, trung vị i-ốt niệu của đối tượng trẻ em toàn quốc (trên 6 tuổi) là 113,3 mcg/l, trẻ em miền núi là 90,0 mcg/l, phụ nữ độ tuổi sinh đẻ là 98,9 mcg/l, phụ nữ có thai là 85,3 mcg/l; trong khi mức khuyến cáo của WHO cho trẻ em và phụ nữ tuổi sinh đẻ là 100-199 mgc/l, cho phụ nữ có thai là 150-249 mcg/l. Hộ gia đình sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn chỉ chiếm 27%; trong khi khuyến cáo của WHO là phải trên 90%. Như vậy chỉ số trung vị i-ố tniệu và chỉ số hộ gia đình sử dụng muối i-ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh đều đạt ở mức nguy cơ cận dưới và không đạt so với khuyến cáo của WHO. Với kết quả này, khẳng định quần thể người dân Việt Nam chưa đạt đủ lượng i-ốt tiêu thụ hàng ngày so với khuyến nghị. Đây là căn cứ để dự thảo sửa đổi Nghị định 09 không thay đổi Khoản 1 Điều 6; cần tiếp tục thực hiện muối dùng để ăn trực tiếp và dùng trong chế biến thực phẩm cần phải được tăng cường I-ốt.
Các chuyên gia phát biểu, đưa ra những bằng chứng khoa học cụ thể cho thấy sự cần thiết bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm
Báo cáo của Bệnh viện Nội tiết trung ương và Viện Dinh dưỡng cho biết, hiện nay Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp bệnh nhân thừa i-ốt.
Đồng thời, Bộ Y tế chưa nhận được bất kỳ bằng chứng khoa học nào của doanh nghiệp liên quan đến việc sử dụng muối tăng cường i-ốt bị biến đổi về màu sắc, mùi vị hoặc ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ người tiêu dùng. Như vậy, các kiến nghị chưa chính xác, chưa có cơ sở khoa học của doanh nghiệp trước đó, đã dẫn đến chậm thực thi Nghị định số 09/2016/NĐ-CP của Chính phủ trong 08 năm. Và trong 08 năm đó, Việt Nam hầu như không có cải thiện về sức khoẻ của người dân liên quan đến các VCDD: I-ốt, sắt, kẽm.
Với nội dung đã nêu, Vụ Pháp chế - Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo theo Nhóm ý kiến của WHO, UNICEF, Viện Dinh dưỡng, Viện Chiến lược và Chính sách y tế và các tổ chức bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Đề xuất giữ nguyên quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 09/2016/NĐ-CP và chỉ sửa một số nội dung cho phù hợp với Nghị định 15/2018/NĐ-CP, đồng thời khẳng định các doanh nghiệp phải tuân thủ Nghị định 09/2016/NĐ-CP vì hiện tại Nghị định này vẫn đang có hiệu lực thi hành.
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên phát biểu kết luận
Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cho biết, sau khi nghe Vụ Pháp chế báo cáo và ý kiến tham luận của các đại biểu dự họp; thống nhất nguyên tắc đã là văn bản quy phạm pháp luật là chúng ta phải thực hiện. Trong quá trình thực hiện có khó khăn, vướng mắc thì trên ý kiến của các tổ chức cá nhân chúng ta xem xét, điều chỉnh theo đúng quy trình, quy định xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thực tế. Như vậy Nghị định 09/2016/NĐ-CP của Chính phủ vẫn còn hiệu lực thi hành nên chúng ta phải thực hiện. Với tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ và phải đặt mục tiêu sức khỏe của người dân lên trên hết, trước hết.
Ban soạn thảo, tổ biên tập cần lưu ý về câu từ sao phải dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm và khả thi. Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải hài hòa với các khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, phù hợp với chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước và thực tiễn Việt Nam dựa trên các số liệu khoa học.
Thứ trưởng đề nghị Vụ Pháp chế - đơn vị chủ trì soạn thảo Nghị định khẩn trương hoàn thiện Dự thảo nghị định trình chính phủ trong tháng 11, hoàn thiện biên bản cuộc họp tiếp thu đầy đủ ý kiến của các đại biểu. Các đơn vị chuyên môn ( Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách y tế, Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai…) rà soát lại các số liệu đã nghiên cứu và có văn bản báo cáo chính thức với Bộ Y tế (gửi về Vụ Pháp chế) trước ngày 1/11/2024. Trên cơ sở các ý kiến của các hiệp hội và tổ chức doanh nghiệp, Bộ Y tế sẽ có văn bản trả lời từng nội dung, trong đó nội dung nào tiếp thu và nội dung nào giải trình. Trên cơ sở đó, Vụ Pháp chế dự thảo báo cáo của Bộ Y tế báo cáo Thủ tướng kết quả của buổi làm việc này và đề xuất phương án trước ngày 10/11/2024.
Giao Viện nghiên cứu Chiến lược và chính sách y tế chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan (Viện dinh dưỡng, Cục ATTP, Cục YTDP…) làm việc cụ thể với các doanh nghiệp đã thực hiện các dịch vụ kĩ thuật để chứng minh, giải quyết các thắc mắc, kiến nghị của các doanh nghiệp liên quan đến Nghị định 09/2016/NĐ-CP của Chính phủ. Cuối cùng, Thứ trưởng cũng gửi lời cảm ơn các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, các chuyên gia đã cùng Bộ Y tế hoàn thiện thể chế, góp phần vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Việt Nam trong tình hình mới./.
Tin liên quan
- Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan: Thống nhất trong xây dựng Tiêu chuẩn Quốc gia, Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia lĩnh vực y tế
- Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế, Bí thư Đảng ủy Bộ Y tế Đào Hồng Lan chủ trì Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Y tế, nhiệm kỳ 2025-2030
- Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức dự và phát biểu tại Hội thảo khoa học: “Chuyển đổi số trong quản trị dược bệnh viện”
- Hội đồng Y khoa Quốc gia họp phiên toàn thể lần thứ IV
- Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên: Đẩy nhanh hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Dân số
- Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên: Xây dựng thể chế quản lý nhà nước trong hướng dẫn tiêu chuẩn, định mức sử dụng thiết bị chuyên dùng lĩnh vực y tế
- Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức: Không để kỹ thuật là nguyên nhân chậm, muộn trong chuyển đổi số y tế
Xuất bản thông tin
Làm gì để tăng tiếp cận và chi trả thuốc điều trị ung thư cho người bệnh BHYT?
03/10/2024 | 09:19 AM
Tại Việt Nam, ung thư là nguyên nhân gây tử vong thứ hai, sau bệnh tim mạch. Gánh nặng bệnh tật do ung thư gây ra tại Việt Nam chiếm 10% tổng gánh nặng bệnh tật do tất cả các bệnh khác.
Gánh nặng chi tiền túi cho điều trị ung thư khá lớn
Theo thống kê của Tổ chức Ung thư toàn cầu, trung bình mỗi năm Việt Nam phát hiện thêm 180.000 người mắc ung thư mới, nghĩa là cứ khoảng 100.000 dân thì có 158,6 ca mắc ung thư mới. Ung thư cũng khiến cho khoảng 122.000 người tử vong mỗi năm, trung bình có 105,6 ca tử vong do ung thư trong tổng số 100.000 dân.
Tổ chức Y tế thế giới dự kiến đến năm 2040, số ca mắc mới ung thư tại Việt Nam tăng khoảng 59,4%, số ca tử vong do ung thư tăng khoảng 70,3%.
Các diễn giả tham gia hội thảo Đối thoại chính sách "Ứng dụng đánh giá công nghệ trong ra quyết định chi trả đối với thuốc điều trị ung thư"
Phát biểu trong hội thảo Đối thoại chính sách "Ứng dụng đánh giá công nghệ trong ra quyết định chi trả đối với thuốc điều trị ung thư" do Viện Chiến lược và Chính sách Y tế - Bộ Y tế tổ chức mới đây, GS.TS Trần Văn Thuấn – Thứ trưởng Bộ Y tế cho rằng chi phí điều trị ung thư cũng là gánh nặng kinh tế lớn đối với toàn xã hội. Chi cho thuốc ung thư năm 2023 là 7.521 tỷ đồng, đứng hàng đầu trong tổng chi trả thuốc từ Quỹ BHYT.
Từ phía bệnh nhân, gánh nặng chi tiền túi cho điều trị ung thư là rất lớn. Theo thống kê từ các bệnh viện, chi phí điều trị đối với một bệnh nhân ung thư dao động trung bình trên 176 triệu đồng/năm, trong đó người bệnh phải tự chi trả tới 70%.
"Đứng trước những thách thức này chúng ta cần có những chính sách y tế phù hợp để hệ thống y tế đủ năng lực và nguồn lực đáp ứng hiệu quả và bền vững phòng chống bệnh ung thư" - Thứ trưởng Trần Văn Thuấn nói.
Theo ThS Vũ Nữ Anh – Phó Vụ trưởng Vụ BHYT, Bộ Y tế, hiện có 69 thuốc điều trị ung thư trong danh mục thuốc trên tổng số 1037 thuốc của danh mục thuốc hóa dược, sinh phẩm được BHYT chi trả thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, hiện nay có nhiều loại thuốc điều trị tiên tiến thế hệ mới ra đời có hiệu quả điều trị cao đối với bệnh ung thư, đáp ứng yêu cầu của các chuyên gia lâm sàng cũng như sự mong đợi của người bệnh song chưa nằm trong danh sách thuốc được BHYT chi trả. Trước thực trạng này, trong một số ý kiến của cử tri gửi đến Ban Dân nguyện của Quốc hội đã đề nghị cần nghiên cứu bổ sung thuốc điều trị ung thư, bệnh hiếm vào danh mục…
Các nước ứng dụng đánh giá công nghệ y tế trong thanh toán thuốc ung thư thế nào?
Theo các chuyên gia xây dựng chính sách, trên thế giới, ứng dụng đánh giá công nghệ y tế là công cụ hữu ích cung cấp bằng chứng cho hoạch định chính sách, đặc biệt trong việc xem xét đưa các thuốc vào danh mục BHYT.
Ứng dụng đánh giá công nghệ y tế là công cụ hữu ích cung cấp bằng chứng cho hoạch định chính sách, đặc biệt trong việc xem xét đưa các thuốc vào danh mục BHYT.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây ứng dụng đánh giá công nghệ y tế đã được quan tâm và bước đầu thể chế hóa đối với yêu cầu sử dụng bằng chứng đánh giá công nghệ y tế trong xây dựng chính sách y tế.
Các chuyên gia cũng cho rằng, với cơ cấu chi từ quỹ BHYT tại Việt Nam hiện nay, danh mục thuốc vẫn chiếm cơ cấu chi lớn nhất với hơn 30% tổng chi. Trong khi đó, tỷ lệ người dân phải chi tiền túi trong khám, chữa bệnh còn cao. Vì vậy, có thể sử dụng bằng chứng đánh giá công nghệ y tế để lựa chọn mua sắm chi tiêu y tế phù hợp, nhằm giảm chi tiền túi của người dân.
Chia sẻ kinh nghiệm của Úc khi thực hiện việc ứng dụng đánh giá công nghệ y tế trong thanh toán thuốc ung thư, ThS. DS. Gregory O'Toole, chuyên gia tư vấn tiếp cận thị trường, nguyên giám đốc ứng dụng đánh giá công nghệ y tế của Ủy bản tư vấn PBAC cho biết việc ứng dụng đánh giá công nghệ y tế mang lại những lợi ích như giúp nhà quản lý: Ra quyết định nhất quán – quy trình thẩm định được áp dụng đồng bộ cho tất cả các loại thuốc, bất kể là điều trị ung thư, hen suyễn, tiểu đường hay các bệnh lý khác. Không có bệnh lý hoặc nhóm bệnh nhân nào bị đặt ưu tiên thấp hơn.
ThS. DS. Gregory O'Toole chia sẻ kinh nghiệm của Úc.
Việc này góp phần làm giảm nguy cơ chi trả cho một loại thuốc không hiệu quả; Đồng thời cung cấp cơ sở đàm phán giá thuốc – nếu một loại thuốc mới được chứng minh vượt trội so với các phương pháp điều trị hiện tại, điều này có thể biện minh cho mức giá cao hơn.
"Hệ thống ứng dụng đánh giá công nghệ y tế của Úc đã được sử dụng trong gần 30 năm để đảm bảo các phương pháp điều trị mới được cung cấp càng nhanh càng tốt, với mức giá mà người đóng thuế có thể chi trả" - ThS. DS. Gregory O'Toole nói và nhấn mạnh thêm: Áp dụng đánh giá công nghệ y tế một cách cẩn trọng, hợp lý và thấu hiểu là lý do lớn cho sự thành công của hệ thống này.
Về kinh nghiệm của Thái Lan ứng dụng đánh giá công nghệ y tế trong ra quyết định chi trả thuốc ung thư, TS Wanrudee Isaranuwatchai cho hay, sản phẩm dược phẩm áp dụng cho danh mục thuốc thiết yếu, sản phẩm vaccine áp dụng cho danh mục vaccine thiết yếu quốc gia; sản phẩm phi dược phẩm và không phải vaccine sẽ áp dụng vào gói quyền lợi BHYT toàn dân (UCBP) trong chương trình BHYT toàn dân (UCS)
TS Wanrudee Isaranuwatchai thông tin thêm: Thái Lan xem xét xây dựng ra một danh mục mới trong Danh sách Thuốc Thiết yếu Quốc gia (NLEM), gọi là "E3", dành riêng cho các loại thuốc có chi phí cao, không có chi phí – hiệu quả, nhưng có hiệu quả cứu sống người bệnh và không có lựa chọn điều trị thay thế.
Ứng dụng đánh giá công nghệ y tế cùng với các giải pháp tài chính khác nhau để tăng cường tiếp cận thuốc ung thư
Theo ThS Vũ Nữ Anh – Phó Vụ trưởng Vụ BHYT dẫn chứng từ thực tiễn cho thấy việc đẩy mạnh phòng ngừa và đưa thuốc mới vào sử dụng trong điều trị ung thư tại Liên minh Châu Âu chính là những lý do làm giảm 4.500 ca tử vong do ung thư ở trẻ em; giảm 4000 ca tử vong do u lympho (bệnh Hodgkin) mỗi năm ở khu vực này.
Các thuốc điển hình như Tamoxifen làm tăng 6%-11% thời gian sống thêm 10 năm; Imatinib có tỷ lệ đáp ứng 98%... "Những thuốc này góp phần làm giảm tác dụng không mong muốn, đồng thời làm tăng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư"- ThS Vũ Nữ Anh nói.
TS Wanrudee Isaranuwatchai chia sẻ kinh nghiệm của Thái Lan ứng dụng đánh giá công nghệ y tế trong ra quyết định chi trả thuốc ung thư.
TS Ong Thế Duệ - Viện Chiến lược và Chính sách y tế cho rằng thuốc ung thư thường có giá cao do phản ánh chi phí cho quá trình nghiên cứu và phát triển kéo dài, bao gồm cả các loại thuốc thành công và không thành công; cùng đó giá thuốc ung thư ngày càng có xu hướng tăng.
TS Duệ cho biết giá trung bình hàng năm của các loại thuốc ung thư đã tăng từ 12.000 USD lên hơn 120.000 USD trong hai thập kỷ qua. Một số loại thuốc điều trị ung thư mới phát triển gần đây như liệu pháp CAR T-cell có chi phí điều trị lên tới 500.000 USD mỗi năm.
Cũng theo TS Duệ, nguồn ngân sách công gặp khó khăn trong chi trả cho thuốc ung thư, hạn chế sự tiếp cận của người bệnh với các phương pháp điều trị tiên tiến. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng cho rằng việc hạn chế tiếp cận đối với thuốc ung thư không chỉ là vấn đề ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình mà còn ở cả các quốc gia thu nhập cao.
Năm 2011, chỉ có 15% người bệnh ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình trong ASEAN có thể tiếp cận thuốc ung thư; so với 55% người bệnh được tiếp cận ở Singapore.
"Do đó, mỗi quốc gia cần có chiến lược ứng dụng đánh giá công nghệ y tế, cùng với các giải pháp tài chính khác nhau để tăng cường tiếp cận đối với thuốc ung thư"- TS Duệ nói.
TS Ong Thế Duệ thông tin, một số công ty dược triển khai các chương trình hỗ trợ bệnh nhân trong đó tặng hoặc hỗ trợ các loại thuốc điều trị ung thư cho những bệnh nhân không thể chi trả với chi phí thấp hoặc miễn phí. Chương trình hỗ trợ bệnh nhân là một trong những cách phổ biến nhất để bệnh nhân có thể tiếp cận các loại thuốc điều trị ung thư có chi phí cao khi việc tiếp cận thông qua BHYT bị hạn chế.
Trong một nghiên cứu tổng quan hệ thống trên 176 nước, chương trình hỗ trợ bệnh nhân hiện được ghi nhận ở 97 nước (chiếm 55%), chủ yếu là các nước có thu nhập thấp và trung bình (chiến 48%).
Các giải pháp tăng cường tiếp cận đối với thuốc ung thư bao gồm: Áp dụng ngưỡng chi phí - hiệu quả cao hơn cho thuốc ung thư; Áp dụng trọng số lớn hơn cho QALY của ung thư; Quy trình xét duyệt riêng cho thuốc ung thư; Nguồn tài chính riêng cho thuốc ung thư; Thỏa thuận chia sẻ rủi ro; Chương trình hỗ trợ người bệnh.
"Tuỳ thuộc vào bối cảnh đặc thù, mỗi quốc gia có thể xem xét áp dụng kết hợp các giải pháp nêu trên để tăng cường tiếp cận đối với thuốc ung thư"- TS Duệ nói.
Nguồn: suckhoedoisong.vn
Tin liên quan
- Sẵn sàng Giải Pickleball Bộ Y tế - VTV8 lần thứ nhất năm 2026
- Bộ Y tế siết chặt hậu kiểm 3 nhóm thực phẩm hỗ trợ sức khỏe
- Chăm sóc sức khỏe người dân nơi đảo xa
- Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo tinh thần Chỉ thị 52 của Ban Bí thư
- Hà Nội bứt phá về năng lực cấp cứu ngoại viện
- Cứu sản phụ bị bệnh cực kỳ hiếm gặp
- Sau 4 lần sảy thai liên tiếp, người mẹ giữ thai thành công nhờ phát hiện bệnh hiếm



