Nghị quyết 30 tạo cơ sở thực hiện thành công chiến lược vaccine COVID-19

27/09/2022 | 19:50 PM

 | 

Các chính sách, biện pháp mạnh mẽ trong phòng, chống dịch COVID-19 tại Nghị quyết 30 đã tạo cơ sở pháp lý kịp thời để Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia, Thủ tướng Chính phủ chủ động đưa ra các quyết sách sáng tạo, linh hoạt, thần tốc trong chỉ đạo, lãnh đạo phòng, chống dịch ở mức cao mà vẫn ổn định tâm lý người dân...

Đây là nhận định được đưa ra tại hội nghị trực tuyến toàn quốc đánh giá tình hình thực hiện các chính sách phòng, chống dịch bệnh COVID-19 theo Nghị quyết số 30/2021/QH15 của Quốc hội về các chính sách phòng, chống dịch COVID-19 (Nghị quyết 30) sáng 27/9. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam chủ trì hội nghị.

Nghị quyết - Ảnh 1.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại hội nghị (Ảnh: VGP/Đình Nam)

Tạo nền tảng pháp lý huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia phòng, chống dịch COVID-19

Tại cuộc họp, các ý kiến thống nhất, sau khi triển khai các chính sách phòng, chống dịch quy định tại Nghị quyết 30, Việt Nam đã đạt mục tiêu kiểm soát được dịch COVID-19, đưa đất nước về trạng thái bình thường mới, từng bước phục hồi, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc biệt, việc Quốc hội cho phép triển khai các biện pháp cấp bách, tổ chức thực hiện các biện pháp chưa được luật quy định hoặc khác với quy định trong các luật, pháp lệnh hiện hành để đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống dịch về áp dụng cơ chế đặc biệt, đặc thù, đặc cách, đã đáp ứng kịp thời yêu cầu phòng, chống dịch, tạo cơ chế pháp lý đầy đủ hơn để huy động tối đa nguồn lực, quyết định những biện pháp đặc cách để tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và cả cơ quan quản lý do những hệ lụy của dịch bệnh gây ra, góp phần quan trọng quyết định kiểm soát được đợt dịch thứ 4.

Chính phủ đã chủ động, sáng tạo áp dụng linh hoạt, kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định tại mục 3 Nghị quyết số 30, đặc biệt là thực hiện thành công chiến lược vaccine và chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch kịp thời, đúng đắn tại những thời điểm quyết định

Nghị quyết số 30 cũng tạo nền tảng pháp lý huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia phòng, chống dịch. Tại đợt dịch thứ 4, trong thời gian ngắn đã huy động, điều động một lực lượng lớn nhân lực của y tế, quân đội, công an với gần 300 nghìn lượt cán bộ của Trung ương và 34 địa phương hỗ trợ TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và các địa phương khác đang có dịch. Cùng với sự hưởng ứng cao của người dân, sự vào cuộc của các cấp, ngành, đã từng bước khống chế được dịch bệnh ở tâm dịch TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An, không để dịch bệnh lan rộng ra toàn quốc.

Các địa phương nhận định, Chính phủ đã chủ động, sáng tạo áp dụng linh hoạt, kịp thời các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định tại mục 3 Nghị quyết số 30, đặc biệt thực hiện thành công chiến lược vaccine và chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch tại những thời điểm quyết định.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, thống nhất trong cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, góp phần đưa Nghị quyết thực sự phát huy hiệu quả trong phòng, chống dịch COVID-19, dịch bệnh nguy hiểm chưa từng có trong tiền lệ.

Nghị quyết - Ảnh 2.

Quang cảnh cuộc họp (Ảnh: VGP/ Đình Nam)

Bên cạnh những kết quả đạt được, các ý kiến tại cuộc họp cũng thẳng thắn nhìn nhận những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 30.

Các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát được hết các tình huống ứng phó với bùng phát của dịch bệnh.

Một số biện pháp còn chưa sát với thực tiễn của từng vùng, địa bàn và chưa tính hết nhu cầu của người dân, khả năng đáp ứng tại chỗ của chính quyền. Việc triển khai mua sắm còn rất hạn chế, đặc biệt tại các địa phương, dẫn đến thiếu thuốc, vật tư, trang thiết bị để bảo đảm công tác phòng, chống dịch và phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân.

Bên cạnh đó, hệ thống y tế bộc lộ hạn chế, nhất là y tế cơ sở và y tế dự phòng, chưa đáp ứng được yêu cầu khi dịch bùng phát; ứng dụng công nghệ thông tin, an ninh, an toàn mạng còn bộc lộ hạn chế, hiệu quả chưa cao; việc tích hợp thành một ứng dụng duy nhất trong quản lý, truy vết, tổ chức khám, tiêm chủng, xét nghiệm, quản lý đi lại còn chậm, chưa tạo thuận lợi cho người dân...

Việc chi trả phụ cấp chống dịch cho các lực lượng tuyến đầu, đặc biệt là nhân viên y tế tại một số địa phương thực hiện còn chậm, thủ tục còn rườm rà...

Mặc dù Nghị quyết số 30 đã cho phép việc mua sắm với số lượng cao hơn nhu cầu thực tế; tuy nhiên vì nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, việc triển khai mua sắm còn rất hạn chế, đặc biệt tại các địa phương dẫn đến thiếu thuốc, vật tư, trang thiết bị để bảo đảm công tác phòng, chống dịch và phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân.

Kiến nghị kéo dài thời gian gia hạn hiệu lực giấy đăng ký lưu hành thuốc

Yêu cầu Bộ Y tế tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh, đại dịch COVID-19 chưa có tiền lệ, vô cùng phức tạp, rất khó lường, đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế-xã hội, thậm chí là nền tảng chính trị của một số quốc gia.

Đến nay, thống kê chưa đầy đủ, thế giới có trên 620 triệu người mắc COVID-19, có 6,5 triệu người chết. Cả những nước có hệ thống y tế hùng mạnh cũng "thất thủ". Trong khi đó, Việt Nam là nước đang phát triển, thu nhập trung bình thấp, nền y tế dù phát triển hơn so với các nước cùng trình độ nhưng chưa thể bằng các nước phát triển.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với tinh thần "chống dịch như chống giặc", bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân trên hết, trước hết. Trong quá trình chỉ đạo phòng, chống dịch, nhiều vấn đề phát sinh chưa được luật quy định hoặc khác với quy định trong các luật, pháp lệnh hiện hành.

Nghị quyết - Ảnh 3.

Hội nghị nối điểm cầu Chính phủ với các địa phương (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Do đó, ngay tại Kỳ họp đầu tiên, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 30, trong đó quy định về các chính sách phòng, chống dịch COVID-19. Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 2 nghị quyết để giải quyết những vướng mắc rất cụ thể của các bộ, ngành, địa phương. Điều đó thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội và Chính phủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng trên tinh thần "tất cả vì sức khỏe, tính mạng của nhân dân".

Phó Thủ tướng yêu cầu, Bộ Y tế bổ sung, làm rõ hơn các vướng mắc về thể chế cần tiếp tục được hoàn thiện, thẩm quyền, trách nhiệm ở cấp nào; quan điểm, hướng xử lý đối với việc mua sắm cao hơn so với nhu cầu thực tế để dự phòng trường hợp dịch bệnh có diễn biến phức tạp, phát sinh.

Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Y tế tiếp thu những kiến nghị liên quan tới việc kéo dài thời gian gia hạn hiệu lực giấy đăng ký lưu hành thuốc; tiếp tục thực hiện cơ chế thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người mắc COVID-19; đánh giá sâu hơn các chế độ, chính sách hỗ trợ người dân để bảo đảm an sinh xã hội.

Nguồn: Suckhoedoisong.vn


Xuất bản thông tin Xuất bản thông tin

Số hóa quản lý hóa chất xét nghiệm

15/04/2026 | 10:08 AM

 | 

Trong hệ thống y tế hiện đại, xét nghiệm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi sức khỏe người bệnh. Tuy nhiên, đằng sau mỗi kết quả xét nghiệm chính xác là cả một quy trình phức tạp liên quan đến máy móc, kỹ thuật và đặc biệt là việc quản lý hóa chất, yếu tố cốt lõi nhưng lâu nay vẫn tồn tại nhiều bất cập.

Quy trình kiểm tra hóa chất nội soi được thực hiện nghiêm ngặt tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực.

Thực tế trước đây tại nhiều cơ sở y tế, công tác quản lý hóa chất xét nghiệm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phương pháp thủ công. Việc dự trù hóa chất thường căn cứ vào số lượng bệnh nhân hoặc số lượt xét nghiệm, trong khi mỗi loại máy, mỗi loại test lại có đặc điểm kỹ thuật và mức tiêu hao khác nhau. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt hoặc dư thừa hóa chất, gây lãng phí hoặc ảnh hưởng đến tiến độ xét nghiệm. Đáng chú ý, các yếu tố như chạy chuẩn (Cal), kiểm tra chất lượng (QC), chạy nền (Background) hay các mẫu lặp lại do lỗi kỹ thuật thường chưa được ghi nhận đầy đủ. Vì vậy, việc đánh giá mức tiêu hao thực tế và tối ưu sử dụng hóa chất gần như chưa thể thực hiện một cách chính xác. Xuất phát từ thực tiễn đó, “Phần mềm quản lý hóa chất xét nghiệm” đã được nghiên cứu và phát triển nhằm giải quyết triệt để những tồn tại nêu trên. Đây là sáng kiến của tác giả Lê Xuân Quý (Công ty TNHH Minh Lộ), đã đoạt giải Ba tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật Thanh Hóa năm 2024-2025.

Phần mềm được thiết kế với khả năng kết nối trực tiếp với các máy xét nghiệm, đồng thời tích hợp với hệ thống LIS (Laboratory Information System) và các phần mềm kiểm soát chất lượng (QC). Nhờ đó, toàn bộ dữ liệu liên quan đến quá trình chạy test được ghi nhận tự động, bao gồm số lần chạy, loại hóa chất sử dụng, mức tiêu hao theo từng mẫu. Điểm nổi bật của hệ thống là khả năng phân tích dữ liệu theo thời gian thực. Thay vì chỉ thống kê số lượng xét nghiệm, phần mềm đi sâu vào từng chi tiết kỹ thuật, từ đó xác định chính xác mức tiêu hao hóa chất cho từng loại test, từng loại máy và từng thương hiệu hóa chất. Điều này tạo ra một bước tiến lớn so với phương pháp quản lý truyền thống.

Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận dữ liệu, phần mềm còn cho phép kỹ thuật viên nhập bổ sung các yếu tố tiêu hao đặc biệt nếu cần. Nhờ đó, dữ liệu được đảm bảo đầy đủ, toàn diện và phản ánh sát thực tế vận hành. Đây chính là cơ sở quan trọng để các cơ sở y tế xây dựng định mức hóa chất chính xác, tránh tình trạng lãng phí hoặc thiếu hụt. Sau khi triển khai, phần mềm quản lý hóa chất xét nghiệm đã mang lại nhiều hiệu quả rõ rệt, cả về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế - xã hội. Trước hết, hệ thống giúp các cơ sở y tế kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng hóa chất, từ đó tối ưu chi phí và giảm thiểu lãng phí. Nhờ khả năng thống kê chi tiết, các đơn vị có thể xác định chính xác tỷ lệ hao phí và nguyên nhân gây hao phí, từ lỗi kỹ thuật đến quy trình vận hành chưa tối ưu, qua đó chủ động điều chỉnh để nâng cao hiệu quả.

Tại Khoa Xét nghiệm (Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực), việc ứng dụng hệ thống phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện do Công ty TNHH Minh Lộ triển khai từ năm 2024 đã mang lại hiệu quả rõ nét trong thực tiễn. Sau gần 2 năm đưa vào vận hành, toàn bộ quy trình quản lý, trong đó có quản lý hóa chất xét nghiệm, được số hóa đồng bộ, giúp theo dõi chính xác mức tiêu hao theo từng máy, từng loại xét nghiệm. Nhờ đó, công tác dự trù hóa chất trở nên chủ động, hạn chế tối đa tình trạng thiếu hụt hoặc lãng phí. Đồng thời, việc thay thế bệnh án giấy bằng bệnh án điện tử cũng góp phần rút ngắn thời gian chờ đợi, nâng cao tính minh bạch và tạo thuận lợi cho đội ngũ y, bác sĩ trong quá trình khám, chữa bệnh.

Một điểm đáng chú ý khác là phần mềm có khả năng tính toán chi phí thực tế cho từng loại xét nghiệm. Bên cạnh đó, hệ thống còn hỗ trợ lập kế hoạch dự trù hóa chất chính xác dựa trên dữ liệu thực tế, giúp dự báo nhu cầu sử dụng trong tương lai, tránh tồn kho dư hoặc thiếu hụt- vấn đề đặc biệt quan trọng khi chi phí hóa chất chiếm tỷ trọng lớn trong xét nghiệm.

Về mặt kỹ thuật, việc quản lý hóa chất theo thời gian thực góp phần nâng cao chất lượng xét nghiệm. Khi hóa chất được cung ứng đầy đủ và sử dụng hợp lý, kết quả xét nghiệm sẽ chính xác hơn, giảm sai số và đảm bảo tiến độ, qua đó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Đồng thời, dữ liệu chi tiết cũng hỗ trợ đánh giá năng lực kỹ thuật viên, phục vụ công tác đào tạo và chuẩn hóa quy trình.

Từ góc độ xã hội, giải pháp này góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành y tế, không chỉ là sự thay đổi về công nghệ mà còn là bước chuyển về tư duy quản lý, từ thủ công sang dựa trên dữ liệu. Đặc biệt, với các bệnh viện công lập, việc kiểm soát tốt phí hóa chất còn giúp tiết kiệm ngân sách, nâng cao chất lượng dịch vụ mà không làm tăng gánh nặng tài chính.

Chia sẻ về quá trình hình thành sáng kiến, tác giả Lê Xuân Quý cho biết, ý tưởng xuất phát từ thực tiễn nhiều năm làm việc với các phòng xét nghiệm, nơi việc quản lý hóa chất còn thủ công, thiếu dữ liệu chính xác và khó kiểm soát chi phí. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã phát triển phần mềm với mục tiêu “số hóa từng giọt hóa chất”, giúp đo lường đầy đủ, minh bạch mọi yếu tố tiêu hao. Thực tế triển khai cho thấy hệ thống không chỉ giảm lãng phí, tối ưu chi phí mà còn nâng cao chất lượng xét nghiệm, tạo nền tảng quan trọng để các cơ sở y tế tiến tới quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu. Đây cũng là bước đi cần thiết để ngành y tế tiến tới quản lý hiện đại, minh bạch và bền vững trong kỷ nguyên số.

(Nguồn: baothanhhoa.vn)


Thăm dò ý kiến